Ôn Thi TỐT NGHIỆP THPT_CHUYÊN ĐỀ SINH 12_ NHIỄM SẮC THỂ VÀ CÁC QUY LUẬT DI TRUYỀN

 

A.TÓM TẮT LÝ THUYẾT

CHỦ ĐỀ 1: NHIỄM SẮC THỂ, CƠ CHẾ DI TRUYỀN VÀ ĐỘT BIẾN
NHIỄM SẮC THỂ

 I. Cấu trúc và chức năng của nhiễm sắc thể

        1. Cấu trúc nhiễm sắc thể

* Khái niệm: Nhiễm sắc thể là cấu trúc nằm trong nhân tế bào sinh vật nhân thực, bắt màu với thuốc nhuộm kiềm tính.

* Cấu trúc hiển vi: (1) Chromatid, (2) Tâm động, (3) Cánh ngắn, (4) Cánh dài

- Tâm động là nơi đính của hai chromatid chị em

- Cánh dài và cánh ngắn: Mỗi cánh có một vùng tận cùng (telomere) mang các trình tự lặp lại (ví dụ trình tự 5’-TAAGGG-3 ở người) với tần suất hàng nghìn lần. 

* Cấu trúc siêu hiển vi:

- Kì trung gian:

+ Mỗi NST trông như một chuỗi do các đoạn phân tử DNA liên kết với các protein histone tạo nên cấu trúc hình cầu được gọi là nucleosome.

+ Chuỗi các nucleosome có đường kính khoảng 10 nm với các vùng có các nucleosome nằm sát nhau được gọi là dị nhiễm sắc và vùng có các nucleosome nằm cách xa nhau được gọi là nguyên nhiễm sắc.

- Kì đầu:

+ Sợi nhiễm sắc đường kính 10 nm co xoắn lại dưới tác động của các protein condensin II và condensin I.

+ Các condensin là những protein nhỏ, dạng vòng liên kết với nhau tạo nên bộ khung NST. Sợi nhiễm sắc 10 nm được luồn vào các vòng protein tạo ra các vòng nhô ra phía ngoài khung NST làm cho chiều dài NST giảm mạnh và tăng dần chiều rộng.

+ Toàn bộ cấu trúc khung nhiễm sắc tiếp tục co xoắn và nén lại (mũi tên xoắn bên ngoài hình) khiến các vòng sợi 10nm xếp chồng sát bên nhau và nhô dài ra làm NST tăng chiều rộng và ngắn lại ở mức cực đại vào kì giữa tạo nên mỗi chromatid có đường kính khoảng 700 nm. 

2. Chức năng của nhiễm sắc thể

2.1. Mang thông tin di truyền 

- Các gene nằm kế tiếp nhau dọc theo chiều dài NST và vị trí của gene trên NST được gọi là locus.

- Cùng một locus trên cặp NST tương đồng có thể chứa trình tự nucleotide khác nhau được gọi là các allele của một gene.

- Số lượng gene và sự phân bố của các gene trên NST của cùng bộ NST cũng rất khác nhau. Có NST chứa nhiều gene và mật độ khá dày, NST khác lại chứa ít gene và các gene nằm xa nhau. Ngoài các gene, NST còn chứa các trình tự nucleotide ở đầu mút bảo vệ NST và trình tự tâm động gắn với thoi phân bào khiến NST di chuyển được khi phân chia tế bào. 

2.2. Truyền đạt thông tin di truyền qua các thế hệ tế bào và giữa các cấp độ NST 

- Dấu hiệu cho thấy NST là vật chất di truyền ở cấp độ tế bào:

+ Do chứa phân tử DNA nên nhiễm sắc thể là cấu trúc mang gene của tế bào, có khả năng lưu giữ, bảo quản thông tin di truyền, điều hoà hoạt động của gene.

+ Nhiễm sắc thể được truyền cho các tế bào con trong quá trình phân bào nên có khả năng truyền thông tin di truyền. Đồng thời, nhiễm sắc thể có thể bị biến đổi về cấu trúc và số lượng dẫn tới biến đổi các tính trạng di truyền của cá thể.

- Nhiễm sắc thể trong tế bào soma ở trạng thái lưỡng bội (2n) tồn tại thành từng cặp tương đồng, giống nhau về hình thái, kích thước và trình tự DNA. Riêng cặp nhiễm sắc thể giới tính có thể không tạo thành cặp tương đồng.

- NST đặc trưng bởi: Số lượng, hình thái và cấu trúc

- Phân loại NST:

+ NST thường

+ NST giới tính

        II. Đột biến nhiễm sắc thể

1. Khái niệm và nguyên nhân đột biến nhiễm sắc thể

* Khái niệm đột biến nhiễm sắc thể

- Đột biến nhiễm sắc thể là những biến đổi về số lượng trong bộ nhiễm sắc thể (đột biến số lượng nhiễm sắc thể) hoặc cấu trúc của từng nhiễm sắc thể trong tế bào (đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể).

- Ví dụ ở người: cặp nhiễm sắc thể 21 có thêm một chiếc nhiễm sắc thể gây hội chứng Down

 

* Nguyên nhân đột biến nhiễm sắc thể

 2. Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

2.1. Các dạng đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

* Khái niệm: Đột biến cấu trúc NST là những biến đổi liên quan đến một hay một số đoạn trong cấu trúc NST

* Các dạng:

- Mất đoạn:

+ NST bị cắt đứt ở một hay một số vị trí và mất đi một đoạn.

+ Đoạn bị mất có thể nằm ở đầu mút hay ở giữa NST.

 - Lặp đoạn:

+ Một đoạn nào đó được lặp lại một số lần trên NST.

 - Đảo đoạn:

+ Đoạn NST bị đứt quay ngược 1800 và nối lại vào vị trí cũ.

+ Đảo đoạn có thể diễn ra ở vùng chứa tâm động hoặc không.

- Chuyển đoạn:

+ Đoạn NST bị đứt ra và chuyển đến vị trí khác trong một NST hoặc một NST khác không tương đồng.

+ Chuyển đoạn có dạng tương hỗ hoặc không tương hỗ.

2.2. Cơ chế phát sinh đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

Các tác nhân đột biến gây ra sự phá vỡ cấu trúc (cắt đứt) nhiễm sắc thể dẫn tới hình thành đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể.

3. Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể

3.1. Các dạng đột biến số lượng nhiễm sắc thể

Đột biến số lượng nhiễm sắc thể bao gồm đột biến lệch bội và đột biến đa bội.

- Đột biến lệch bội:

+ Là đột biến làm thay đổi số lượng NST ở một hay một số cặp NST tương đồng.

+ Bao gồm: Thể khuyết nhiễm (2n-2), thể một nhiễm (2n-1), thể ba nhiễm (2n+1), thể bốn nhiễm (2n+2),…

- Đột biến đa bội:

+ Là sự tăng lên một số nguyên lần bộ nhiễm sắc thể đơn bội của loài và lớn hơn 2n.

+ Bao gồm: Tự đa bội và dị đa bội.

3.2. Cơ chế phát sinh đột biến số lượng nhiễm sắc thể

- Tác nhân gây đột biến ngăn cản sự phân li của một hoặc một số cặp nhiễm sắc thể tương đồng, trong giảm phân dẫn tới hình thành giao tử đột biến (n+x hoặc n-x). Các giao tử đột biến kết hợp với nhau hoặc với giao tử bình thường trong thụ tinh → thể lệch bội.

- Khi tác nhân gây đột biến ức chế sự hình hành thoi vô sắc ngăn cản sự phân li của tất cả các cặp NST tương đồng trong giảm phân dẫn tới hình thành giao tử chứa NST lưỡng bội (2n). Giao tử đột biến kết hợp với giao tử bình thường (n) hoặc đôt biến (2n) trong thụ tinh → thể đa bội.

- Trong lai xa giữa hai loài khác nhau, hợp tử mang 2 bộ NST đơn bội không tương đồng từ loài bố và loài mẹ. Cả cơ thể lai bất thụ do không tạo được giao tử. Nếu tác nhân gây đột biến tác động làm tăng gấp đôi số lượng của cả hai bộ NST đơn bội sẽ tạo thành thể đa bội khác nguồn.

- Đột biến số lượng NST cũng có thể phát sinh trong nguyên phân. Nếu hiện tượng này diễn ra ở giai đoạn sớm của hợp tử sẽ dẫn tới một phần cơ thể mang tế bào lệch bội hoặc đa bội.

4. Tác hại của đột biến nhiễm sắc thể

Tác hại của đột biến cấu trúc

- Các loại đột biến mất đoạn NST làm mất gene nên hầu hết là có hại. - Đột biến lặp đoạn NST, thêm số lượng bản sao của gene làm mất cân bằng gene nên có thể gây hại.

- Các loại đột biến đảo đoạn và chuyển đoạn, nếu không làm hỏng các gene ở những điểm đứt gãy thì thường ít hoặc không gây hại. Tuy vậy, những đột biến này làm thay đổi vị trí của gene trên NST nên có thể làm thay đổi sự biểu hiện của gene biểu hiện thành kiểu hình có hại.

- Các cá thể chuyển đoạn dị hợp và cá thể đảo đoạn dị hợp thường bị giảm 50% khả năng sinh sản. 

Tác hại của đột biến số lượng

- Các loại đột biến dị bội làm mất cân bằng gene nên thường gây hại và thậm chí gây chết.

- Ở người, các thai nhi đa bội đều bị chết sớm.

- Các thể đột biến đa bội lẻ như 3n ở thực vật và ở một số loài động vật bậc thấp thường gây bất thụ.

- Các loại đột biến đa bội chẵn như 4n ít gây hại hơn so với các loại đột biến đa bội lẻ vì thường không làm mất cân bằng gene. 

 

5. Vai trò của đột biến nhiễm sắc thể

Trong tiến hóa

- Các loại đột biến cấu trúc NST có vai trò tái cấu trúc lại bộ NST làm thay đổi số lượng, cấu trúc của một số gene cũng như thay đổi sự phân bố của các gene trong hệ gene.

- Đột biến đa bội đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành loài mới ở nhiều loài thực vật và một số loài động vật.

- Đột biến đa bội cũng đã góp phần hình thành nên một số loài động vật như thằn lằn tam bội, giun dẹp, đỉa, một số loài tôm nước mặn.

Trong nghiên cứu di truyền

- Đột biến mất đoạn được dùng để xác định vị trí gene trên NST.

- Cá thể có một NST bình thường mang allele lặn, trong khi NST tương đồng của nó có đoạn bị mất chứa allele trội nên gene lặn mặc dù chỉ có một allele vẫn biểu hiện ra kiểu hình.

- Ở người, các nhà khoa học đã xác định được gene quy định giới tính nam nằm ở đầu vai ngắn của NST Y vì người có NST Y bị mất đoạn đầu vai ngắn sẽ biểu hiện kiểu hình nữ.

- Chuyển đoạn và đảo đoạn làm thay đổi vị trí gene trên NST có thể dẫn đến sự thay đổi biểu hiện gene nên nghiên cứu các loại đột biến này giúp xác định được hiệu quả vị trí gene trên NST. 

Trong chọn giống

- Chuyển đoạn có thể được ứng dụng để chuyển các gene quý mà con người quan tâm trên các NST khác nhau về cùng một NST để chúng luôn di truyền cùng nhau.

- Các cá thể chuyển đoạn và đảo đoạn dị hợp thường bị giảm khả năng sinh sản nên các nhà khoa học có thể tạo và nhân nuôi một số lượng lớn các cá thể côn trùng đực bị chuyển đoạn hoặc đảo đoạn rồi thả vào tự nhiên cho giao phối với các thể cái bình thường, từ đó làm giảm số lượng của quần thể côn trùng gây hại. 

- Các cây ăn quả tam bội thường cho quả không hạt.

- Các cây dâu tằm đa bội thường có kích thước lớn hơn và có tốc độ sinh trưởng cao hơn cây lưỡng bội. 

 

CHỦ ĐỀ 2: DI TRUYỀN HỌC CỦA MENDEL

 I. Học thuyết di truyền của Mendel

        1. Bối cảnh ra đời thí nghiệm của Mendel

        1.1. Bối cảnh ra đời

- Đầu thế kỉ XIX, thuyết di truyền hoà trộn được thừa nhận rộng rãi bởi các nhà sinh vật học ở châu Âu. Theo thuyết này, tính trạng ở cá thể con là sự hòa trộn các tính trạng của cá thể bố mẹ. Tuy nhiên, thuyết di truyền hoà trộn không giải thích được hiện tượng một số tính trạng từ cả thể bố hoặc mẹ được di truyền trực tiếp cho cá thể con. - Trước G. Mendel (1822 – 1884), một số nhà khoa học đã thực hiện các thí nghiệm lai thực vật nhưng không tìm ra được các quy luật di truyền vì không sử dụng đúng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và không áp dụng toán thống kê vào phân tích kết quả.

- Mendel thực hiện các thí nghiệm từ năm 1856 đến năm 1863 trên đối tượng cây Đậu hà lan (Pisum sativum) và phân tích số liệu thu được từ kết quả thực nghiệm bằng toán thống kê. Với phương pháp đúng đắn, Mendel đã phát hiện ra các quy luật di truyền và công bố các kết quả nghiên cứu của mình tại Hội nghị của Hiệp hội khoa học tự nhiên Thành phố Brno (1865).

1.2. Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng: Đậu Hà Lan.

- Mendel đã tiến hành bảy phép lai một tính trạng với bảy tính trạng là màu hoa, hình dạng hạt, chiều cao cây, màu hạt, hình dạng quả, màu quả và vị trí hoa trên cây.

- Đặc điểm:

+ Tự thụ phấn.

+ Thời gian thế hệ tương đối ngắn, số lượng hạt mỗi cây nhiều.

+ Có nhiều dòng khác biệt nhau về những tính trạng dễ theo dõi.

        2. Thí nghiệm lai ở đậu Hà Lan

        2.1. Thí nghiệm lai một cặp tính trạng và quy luật phân li

* Bố trí thí nghiệm:

        Nhận xét:

        - F1 chỉ biểu hiện một loại tính trạng

F1 x F1 → F2 phân tính với tỉ lệ xấp xỉ 3:1

        - Khi tiến hành với các dòng Đậu Hà lan thuần chủng về các tính trạng khác (chiều cao, vị trí hoa, hình dạng vỏ quả, màu vỏ quả…) kết quả đều như trên.                                                                              

* Giải thích và đề xuất giả thuyết mới:

- Mỗi tính trạng được kiểm soát bởi một nhân tố di truyền. Trong một cơ thể, mỗi nhân tố di truyền tồn tại thành cặp, một có nguồn gốc từ bổ và một có nguồn gốc từ bố và một có nguồn gốc từ mẹ.

- Tính trạng được biểu hiện ở F1 là tính trạng trội, tính trạng không được biểu hiện ở F1 là tính trạng lặn. Ở đời lai F2, sự phân li tính trạng theo tỉ lệ 3 trội : 1 lặn. 

- Cặp nhân tố di truyền phân li trong quá trình tạo thành giao tử nên mỗi giao tử chỉ chứa một nhân tố di truyền. Sự thụ tinh kết hợp giao tử từ bố và giao tử từ mẹ tạo nên cặp nhân tố di truyền ở đời lai. 

* Kiểm chứng giả thuyết: Mendel tiến hành phép lai kiểm nghiệm (sử dụng phép lai phân tích): Phép lai giữa cá thể có kiểu hình trội (AA hoặc Aa) với một cá thể có kiểu hình lặn (aa), mục đích là kiểm tra kiểu gene của KH trội là thuần chủng hay không thuần chủng.

Pa:   AA (Hoa đỏ)  x  aa (hoa trắng)

GPa:   A                       a

Fa:      Aa ( 100% hoa đỏ)

Pb:   Aa (hoa đỏ) x aa (Hoa trắng)

GPb:       A, a     :    1a

Fb:        Aa       :     aa

             hoa đỏ  ;   hoa trắng

* Nội dung quy luật: Nhân tố di truyền được gọi là gene, tồn tại thành các allele khác nhau. Trong quá trình tạo giao tử, mỗi allele trong cặp phân li ngẫu nhiên đồng đều về các giao tử nên mỗi giao tử chỉ chứa một allele. Sự thụ tinh kết hợp ngẫu nhiên allele từ bố và allele từ mẹ tạo ra cá thể ở đời lai. 

* Cơ sở tế bào học của quy luật phân li:

- Nhân tố di truyền là gene, với các allele tồn tại trên cặp nhiễm sắc thể tương đồng.

- Sự vận động của gene gắn với sự vận động của nhiễm sắc thể trong cơ chế nguyên phân, giảm phân và thụ tinh.

- Sự phân li của các nhiễm sắc thể trong giảm phân dẫn tới mỗi giao tử chỉ mang một allele của cặp.

- Sự kết hợp ngẫu nhiên hai giao tử trong thụ tinh dẫn tới hình thành tổ hợp cặp allele ở thế hệ con.

* Sơ đồ lai: 

Qui ước: A là nhân tố di truyền → qui định hoa tím là trội hoàn toàn so với a → qui định hoa trắng. (AA, aa là 2 cặp nhân tố di truyền)

Sơ đồ:

Pt/c:              AA      x     aa

Gp:               A                a

 F1:                  Aa (100% hoa tím)

 F1 x F1:       Aa       x     Aa

GF1:    A, a   ;   A, a

F2:      AA:   Aa:    aa      

 KH:   hoa tím:   hoa trắng

        2.2. Thí nghiệm lai hai cặp tính trạng và quy luật phân li độc lập

        * Bố trí thí nghiệm:

Pt/c   Hạt vàng, vỏ trơn    x  Hạt xanh, vỏ nhăn

F1   100%  Hạt vàng, vỏ trơn

F1 tự thụ phấn

F­­2:  Hạt vàng, vỏ trơn       Hạt xanh, vỏ trơn

           Hạt vàng, vỏ nhăn     Hạt xanh, vỏ nhăn

* Giải thích của Mendel:

        - Tách từng cặp tính trạng ở F2:

 =                          =      

Tích các tỷ lệ từng cặp tính trạng:

(Vàng : Xanh) x (Trơn : Nhăn) = (3:1) x (3: 1) = 9 : 3 : 3 : 1

Kết luận:

- Khi phân tích kết quả thí nghiệm, Mendel nhận thấy kiểu hình ở F1 là đồng nhất (100%), tỉ lệ kiểu hình ở F2 xấp xỉ 9 : 3 : 3 : 1 khi xét đồng thời cả hai cặp tính trạng tương phản. Xét riêng tỉ lệ kiểu hình của từng cặp tính trạng tương phản ở F2 xấp xỉ 3 trội : 1 lặn (3 hạt vàng : 1 hạt xanh, 3 vỏ trơn : 1 vỏ nhăn). Như vậy, trong phép lai cặp bố mẹ thuần chủng khác nhau về hai cặp tính trạng tương phản, sự di truyền của từng cặp tính trạng độc lập với nhau. Tỉ lệ mỗi kiểu hình ở thế hệ F2 bằng tích tỉ lệ của các tính trạng được xem xét.

* Đề xuất giả thuyết mới: Các cặp nhân tố di truyền quy định các cặp tính trạng khác nhau phân li độc lập với nhau trong quá trình hình thành giao tử.

* Nội dung quy luật: Mỗi cặp allele phân li độc lập với cặp allele khác trong quá trình hình thành giao tử. 

* Cơ sở tế bào học của quy luật phân li độc lập:

- Mỗi cặp tính trạng tương phản được quy định bởi hai allele của một gene trên cặp nhiễm sắc thể tương đồng khác nhau.

- Trong quá trình giảm phân (kì sau giảm phân I) của cơ thể F1, các cặp nhiễm sắc thể tương đồng phân li độc lập với nhau, dẫn tới sự phân li độc lập của các cặp allele hình thành các loại giao tử khác nhau với xác suất bằng nhau. Sự kết hợp ngẫu nhiên với xác suất như nhau giữa các loại giao tử trong quá trình thụ tinh tạo nên tỉ lệ phân li ở thế hệ F2.

* Sơ đồ lai:

Quy ước: Hạt vàng: Y -> Hạt xanh: y

                Hạt trơn: R  -> Hạt nhăn: r

(Mỗi cặp nhân tố di truyền quy định 1 cặp tính trạng)

Sơ đồ:

PTC:  Vàng, trơn          X           xanh, nhăn

          YYRR                              yyrr

F1 :            YyRr (100% vàng, trơn)

GF1 :        , , ,

F2: + Kiểu gen: : : : : :  

                          : : :

 + Kiểu hình:  vàng, trơn (Y-R-): vàng, nhăn (Y- rr) :

                         Xanh, trơn (yyR-) : xanh, nhăn (yyrr).

* Quan điểm của Mendel về tính quy luật của hiện tượng di truyền:

        - Mendel đã đưa ra quan điểm về tính quy luật của hiện tượng di truyền các tính trạng ở sinh vật.

- Mendel đã mô tả sự di truyền của các tính trạng quan sát được ở cây Đậu hà lan, đề xuất các khái niệm về nhân tố di truyền quy định sự di truyền của các tính trạng qua các thế hệ và dựa vào phương pháp phân tích thống kê, đưa ra quy luật.

* Ý nghĩa công trình nghiên cứu của Mendel

- Các quy luật di truyền do Mendel phát hiện ra giữa thế kỉ XIX đã đặt nền móng cho di truyền học hiện đại.

- Phương pháp nghiên cứu của Mendel (thực nghiệm kết hợp với phân tích thống kê kết quả thu được) là phương pháp khoa học, cơ sở của các phương pháp trong nghiên cứu di truyền hiện đại.

- Giả thuyết nhân tố di truyền của Mendel thiết lập cơ sở nguyên lí gene quy định tính trạng và truyền thông tin di truyền.

- Các quy luật di truyền phân li, phân li độc lập của Mendel là cơ sở cho phép giải thích hiện tượng di truyền của nhiều tính trạng ở sinh vật, cơ chế tái tổ hợp di truyền và sự đa dạng di truyền trong quần thể. 

II. Mở rộng học thuyết Mendel    

1. Tương tác giữa các allele thuộc cùng một gene

Kiểu tương tác

Đặc điểm

Ví dụ

Sơ đồ lai minh họa

Trội không hoàn toàn

Là hiện tượng tương tác giữa các allele của cùng một gene, trong đó một allele không át chế hoàn toàn sự biểu hiện của allele còn lại, dẫn tới thể dị hợp có kiểu hình trung gian, không hoàn toàn giống một bên bố hoặc mẹ. 

Khi thực hiện phép lai giữa hai cây hoa mõm chó (Antirrhinum majus L.) thuần chủng có hoa màu đỏ và màu trắng với nhau thu được F1 gồm toàn các cây có hoa màu hồng (màu sắc trung gian giữa hai dạng bố mẹ).

A1: Hoa đỏ

A2: Hoa trắng

P:   A1A1    X    A2A2

   (hoa đỏ)   (hoa trắng)

GP:   A1      :     A2

F1             A1A2

            (hoa hồng)

Đồng trội

Trường hợp cả hai allele khác nhau của cùng một gene đều biểu hiện kiểu hình riêng trên kiểu hình cơ thể thì kiểu tương tác này được gọi là đồng trội.

Ở người:

IAIA, IAIO: Máu A

IBIB, IBIO: Máu B

IAIB: Máu AB (đồng trội)

IOIO: Máu O

P: IAIA    x      IBIB

Gp: IA      :        IB

F1:         IAIB

 

2. Tương tác giữa sản phẩm của các gene không allele

Các cách tương tác

Đặc điểm

Ví dụ

Sản phẩm của các gene tương tác gián tiếp với nhau

- Sản phẩm của các allele thuộc các gene khác nhau có thể không trực tiếp tương tác với nhau.

 

 

Hai gene quy định enzyme tham gia vào con đường chuyển hoá tạo ra màu vỏ ốc. Allele A và allele B thuộc hai gene A và B quy định enzyme xúc tác cho các phản ứng chuyển hoá các chất tiền thân không màu (màu trắng) tạo ra sản phẩm làm cho vỏ ốc có màu nâu. Nếu một trong hai gene bị đột biến làm mất chức năng của gene (đột biến lặn) hoặc cả hai gene đều bị đột biến mất chức năng thì ốc có vỏ màu trắng.

Sản phẩm của các gene tương tác trực tiếp với nhau theo kiểu cộng gộp

- Nhiều tính trạng như chiều cao, màu da, màu tóc,... của người do rất nhiều gene quy định. Mỗi allele trội của một gene quy định một “đơn vị” nhỏ sản phẩm, góp phần cùng sản phẩm của các gene khác tạo nên kiểu hình chung.

- Kiểu tương tác giữa các gene theo kiểu cộng dồn đó được gọi là tương tác cộng gộp và tính trạng đa gene như vậy được gọi là tính trạng số lượng.


Mỗi allele trội quy định màu da, màu tóc chỉ tạo ra một lượng rất nhỏ sắc tố. Tổng số các allele trội quy định màu da, màu tóc trong hệ gene sẽ quyết định lượng sắc tố quy định kiểu hình.


B. BÀI TẬP VẬN DỤNG

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn
Đọc tiếp: