BÀI 2: THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA
I. BIỂU HIỆN CỦA THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM
GIÓ MÙA
1. Khí hậu
- Tính chất nhiệt đới:
+ Cán cân bức xạ quanh năm
dương, nhận lượng bức xạ mặt trời lớn.
+ Nhiệt độ trung bình năm
trên toàn quốc đều trên 20°C (trừ vùng núi cao), tăng dần từ Bắc vào Nam.
+ Tổng số giờ nắng đạt từ 1
400 đến 3 000 giờ/năm tuỳ từng nơi.
Ví dụ thực tế: Người
dân các tỉnh Nam Bộ như Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh quanh năm chỉ mặc áo cộc tay,
nhiệt độ trung bình năm luôn trên 27°C và không có mùa đông lạnh như miền Bắc.
- Tính chất ẩm:
+ Lượng mưa trung bình năm
lớn: thường từ 1 500 đến 2 000 mm/năm; các sườn đón gió biển hoặc núi cao có thể
đạt từ 3 500 đến 4 000 mm/năm.
+ Độ ẩm không khí rất cao:
độ ẩm tương đối trung bình năm từ 80% đến 85%, cân bằng ẩm luôn dương.
Ví dụ thực tế: Các
đỉnh núi đón gió như Móng Cái (Quảng Ninh) hay Bạch Mã (Thừa Thiên Huế) có lượng
mưa rất lớn; hiện tượng "trời nồm" ẩm ướt, sàn nhà "chảy nước"
vào mùa xuân ở miền Bắc do độ ẩm không khí vượt ngưỡng bão hòa (> 90%).
- Gió mùa:
+ Gió mùa mùa đông (tháng
11 đến tháng 4 năm sau): Khối khí lạnh từ áp cao Xi-bia thổi theo hướng đông bắc
vào nước ta. Nửa đầu mùa đông có thời tiết lạnh khô (do đi qua lục địa), nửa
sau mùa đông lệch qua biển nên có thời tiết lạnh ẩm kèm mưa phùn ở đồng bằng
ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Bị chặn lại ở dãy Bạch Mã (vĩ tuyến 16°B).
+ Gió mùa mùa hạ (tháng 5 đến
tháng 10):
+ Đầu mùa hạ: Khối khí nhiệt
đới ẩm từ Bắc Ấn Độ Dương (Tây Nam) thổi vào, gây mưa lớn cho Nam Bộ và Tây
Nguyên; khi vượt qua dãy Trường Sơn gây hiệu ứng phơn khô nóng (gió Lào) cho đồng
bằng ven biển Trung Bộ và Nam Tây Bắc.
+ Giữa và cuối mùa hạ: Gió
mùa Tây Nam (xuất phát từ áp cao cận chí tuyến bán cầu Nam) hoạt động mạnh kết
hợp với dải hội tụ nhiệt đới gây mưa lớn trên diện rộng cho cả nước.
+ Sự luân phiên của các khối
khí tạo nên sự phân mùa khí hậu: Miền Bắc có mùa đông lạnh, ít mưa và mùa hạ
nóng ẩm, mưa nhiều; Miền Nam có hai mùa mưa - khô rõ rệt; Giữa Tây Nguyên và sườn
Đông Trường Sơn có sự đối lập về mùa mưa - khô.
Ví dụ thực tế:
Vào tháng 6 - 7, người dân miền Trung (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình) thường
xuyên chịu cảnh "gió Lào" khô rát với nhiệt độ ngoài trời có thể vượt
40°C nhưng độ ẩm không khí hạ xuống rất thấp dưới 40%, làm tăng nguy cơ cháy rừng
và khô hạn.
2. Địa hình
- Quá trình phong hóa diễn
ra mạnh mẽ:
+ Nhiệt ẩm cao thúc đẩy
phong hóa hóa học làm tầng đất dày, bề mặt địa hình biến đổi nhanh chóng.
+ Tại các vùng đá vôi hình
thành địa hình cacxtơ nhiệt đới đặc trưng với nhiều hang động, thung khô, cánh
đồng cacxtơ.
Ví dụ thực tế:
Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình) và Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) là các
tháp karst ngập nước hoặc hang động đá vôi kỳ vĩ được tạo nên từ quá trình nước
mưa hòa tan đá vôi qua hàng triệu năm trong điều kiện nhiệt đới ẩm.
- Quá trình xâm thực - bồi
tụ là nét nổi bật:
+ Ở vùng đồi núi: Xâm thực
diễn ra dữ dội, địa hình bị chia cắt mạnh, sườn dốc dễ xảy ra sạt lở, trượt lở
đất đá vào mùa mưa bão.
+ Ở vùng đồng bằng: Bồi tụ
nhanh chóng ở hạ lưu sông tạo nên các đồng bằng châu thổ rộng lớn (đồng bằng
sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long). Hằng năm diện tích đồng bằng lấn ra biển
từ vài chục đến hàng trăm mét.
Ví dụ thực tế: Hiện
tượng đất bồi lấn biển hàng năm tại vùng Cồn Thoi, Kim Sơn (Ninh Bình) hay mũi
Cà Mau giúp mở rộng diện tích đất liền và tạo ra các bãi bồi rừng ngập mặn trù
phú.
3. Sông ngòi
- Mạng lưới sông ngòi dày đặc:
Nước ta có 2 360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, phân bố rộng khắp trên
cả nước.
- Sông ngòi nhiều nước,
giàu phù sa:
+ Tổng lượng nước lớn khoảng
839 tỉ m³/năm (phần lớn nhận từ lưu vực ngoài lãnh thổ).
+ Lượng phù sa lớn, khoảng
200 triệu tấn/năm.
- Chế độ nước theo mùa rõ rệt
và thất thường:
+ Nhịp điệu dòng chảy trùng
với nhịp điệu mưa: mùa lũ tương ứng mùa mưa (chiếm 70 - 80% lượng nước cả năm),
mùa cạn tương ứng mùa khô.
+ Chế độ mưa thất thường
làm mực nước sông ngòi biến động nhanh, thường gây ra ngập lụt đột ngột hoặc
khô hạn kéo dài.
Ví dụ thực tế: Nước
sông Hồng vào mùa lũ (tháng 6 đến tháng 10) luôn cuồn cuộn đỏ ngầu phù sa; người
dân miền Tây Nam Bộ đón "mùa nước nổi" vào các tháng cuối năm mang
theo tôm cá và nguồn phù sa bồi bổ cho đồng ruộng.
4. Đất
- Quá trình hình thành đất
đặc trưng là quá trình feralit:
+ Khí hậu nhiệt ẩm cao thúc
đẩy phong hóa diễn ra sâu sắc, tạo tầng đất dày.
+ Mưa nhiều rửa trôi mạnh
các chất kiềm và bazơ dễ tan (Ca²⁺, Mg²⁺, Na⁺, K⁺) làm đất bị chua, đồng thời
tích tụ ôxít sắt (Fe₂O₃) và ôxít nhôm (Al₂O₃) tạo nên màu đỏ vàng đặc trưng.
+ Ở vùng có sự phân hóa mùa
khô - mưa sâu sắc, sự tích tụ ôxít sắt, ôxít nhôm diễn ra mạnh tạo thành kết
von hoặc đá ong ở tầng mặt.
- Phân bố: Đất feralit là
loại đất chính ở vùng đồi núi thấp nước ta (chiếm hơn 65% diện tích tự nhiên).
Ví dụ thực tế: Khi
đi qua các cung đường vùng trung du Phú Thọ hoặc Tây Nguyên, ta dễ dàng quan
sát thấy các vách taluy đường xẻ có tầng đất màu đỏ gạch hoặc nâu đỏ rất dày; một
số nơi bị thoái hóa tạo thành các tảng đá ong lỗ chỗ, khô cứng.
5. Sinh vật
- Hệ sinh thái tiêu biểu: Rừng
nhiệt đới ẩm gió mùa phát triển trên đất feralit với cấu trúc nhiều tầng, sinh
khối lớn và năng suất sinh học cao.
- Thành phần loài nhiệt đới
chiếm ưu thế:
+ Thực vật: Ưu thế các loài
nhiệt đới như họ Dầu, họ Đậu, họ Dâu tằm, họ Re...
+ Động vật: Đa dạng các
loài thú, chim, bò sát nhiệt đới như công, trĩ, vẹt, khỉ, vượn, nai, hoẵng...
- Sự phân hóa của thảm thực
vật: Do tác động của gió mùa và sự phân mùa sâu sắc, xuất hiện rừng nhiệt đới
gió mùa rụng lá vào mùa khô, rừng thưa khộp lá rộng, rừng trảng cỏ, cây bụi gai
hạn sinh.
Ví dụ thực tế: Vườn
quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình) có hệ thực vật nhiệt đới xanh tốt quanh năm với
cây chò ngàn năm tuổi mọc nhiều tầng tán; trong khi đó, rừng khộp Bản Đôn (Đắk
Lắk) lại rụng trơ trụi lá vào mùa khô để hạn chế thoát hơi nước.
II. ẢNH HƯỞNG CỦA THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM
GIÓ MÙA ĐẾN HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT VÀ ĐỜI SỐNG
1. Ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất
- Đối với nông nghiệp:
+ Thuận lợi: Nguồn nhiệt ẩm,
ánh sáng dồi dào tạo điều kiện phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới, có thể
thâm canh, tăng vụ, trồng trọt quanh năm; cơ cấu cây trồng, vật nuôi đa dạng
(ngoài sản phẩm nhiệt đới còn có sản phẩm cận nhiệt và ôn đới nhờ mùa đông lạnh
hoặc độ cao địa hình).
+ Khó khăn: Thời tiết thất
thường, nhiều thiên tai (bão, lũ lụt, hạn hán, sương muối, rét hại...), sâu bệnh
phát triển gây thiệt hại cho mùa màng và chăn nuôi.
Ví dụ thực tế: Nông
dân đồng bằng sông Hồng có thể trồng thêm vụ đông với các loại rau quả xứ lạnh
(bắp cải, su hào, khoai tây); tuy nhiên vào những đợt rét đậm rét hại kéo dài,
hàng nghìn con trâu bò vùng cao miền núi phía Bắc có nguy cơ bị chết rét.
- Đối với các ngành sản xuất
khác:
+ Thuận lợi: Tạo điều kiện
phát triển lâm nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải, du lịch quanh năm; thúc đẩy
các hoạt động xây dựng, khai thác ngoài trời vào mùa khô.
+ Khó khăn: Sự phân mùa sâu
sắc gây trở ngại cho hoạt động khai thác, giao thông thủy; độ ẩm cao khiến máy
móc, thiết bị công nghiệp nhanh hỏng hóc, gỉ sét; nông sản, thực phẩm khó bảo
quản và dễ bị ẩm mốc.
Ví dụ thực tế:
Các hoạt động du lịch biển ở miền Bắc gần như đóng băng vào mùa đông do gió mùa
Đông Bắc mang giá lạnh; các nhà máy may mặc, linh kiện điện tử tại Việt Nam
luôn phải đầu tư hệ thống hút ẩm công nghiệp để tránh nấm mốc và rỉ sét vi mạch.
2. Ảnh hưởng đến đời sống
- Thuận lợi: Nhìn chung nền
nhiệt ẩm cao tạo điều kiện cho các hoạt động sinh hoạt diễn ra quanh năm mà
không bị đóng băng, cản trở bởi tuyết rơi dày đặc; lượng mưa dồi dào cung cấp đủ
nước ngọt sinh hoạt.
- Khó khăn:
+ Thiên tai cực đoan (bão,
ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất) đe dọa trực tiếp đến tính mạng và tài sản của
nhân dân.
+ Môi trường nhiệt ẩm cao
là điều kiện lý tưởng cho các loại vi khuẩn, côn trùng truyền bệnh sinh sôi,
phát sinh nhiều dịch bệnh nhiệt đới (sốt xuất huyết, tả, cúm mùa...).
Ví dụ thực tế:
Cứ vào mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11, các bệnh viện tại Hà Nội và TP. Hồ Chí
Minh luôn phải đối mặt với các đợt bùng phát dịch bệnh sốt xuất huyết do muỗi vằn
phát triển mạnh trong các vùng nước đọng mùa mưa.