Lý Thuyết Sinh 12_Bài 21 Học Thuyết Tiến Hoá Tổng Hợp Hiện Đại

 BÀI 21: HỌC THUYẾT TIẾN HOÁ TỔNG HỢP HIỆN ĐẠI

I. KHÁI NIỆM TIẾN HOÁ NHỎ

- Tiến hoá nhỏ là quá trình biến đổi tần số allele và tần số kiểu gen của quần thể từ thế hệ này sang thế hệ khác.

+ Quy mô: Nhỏ, diễn ra trong phạm vi của một quần thể.

+ Thời gian: Lịch sử tương đối ngắn, có thể nghiên cứu bằng thực nghiệm.

+ Kết quả: Dẫn đến sự hình thành loài mới.

- Tiến hoá lớn là quá trình hình thành các đơn vị phân loại trên loài (chi, họ, bộ, lớp, ngành) diễn ra trên quy mô lớn, thời gian địa chất lâu dài (hàng triệu năm).

- Quần thể là đơn vị nhỏ nhất có thể tiến hoá (đơn vị tiến hoá cơ sở).

II. CÁC NHÂN TỐ TIẾN HOÁ

Các nhân tố tiến hoá là những tác nhân làm thay đổi tần số allele và tần số kiểu gen của quần thể.

1. Đột biến

- Làm xuất hiện các allele mới, từ đó làm thay đổi tần số allele của quần thể một cách vô cùng chậm chạp (do tần số đột biến tự nhiên của mỗi gen rất thấp, khoảng 10⁻⁶ đến 10⁻⁴).

- Đột biến cung cấp nguồn nguyên liệu sơ cấp cho quá trình tiến hoá.

- Mỗi cá thể có rất nhiều gen và quần thể có rất nhiều cá thể nên đột biến vẫn tạo ra lượng biến dị di truyền vô cùng phong phú cho quần thể.

Ví dụ thực tế: Ở loài sâu đo, đột biến ngẫu nhiên làm xuất hiện allele quy định màu cánh sẫm bên cạnh allele quy định cánh sáng truyền thống. Khi môi trường rừng bị ô nhiễm khói bụi công nghiệp làm thân cây sẫm màu, đột biến này bỗng trở nên có lợi, giúp sâu tránh được chim săn mồi.

2. Phiêu bạt di truyền

- Là hiện tượng thay đổi tần số allele của quần thể gây ra bởi các yếu tố ngẫu nhiên (thiên tai, dịch bệnh, lũ lụt, hoả hoạn,...).

- Tác động mạnh nhất ở các quần thể có kích thước nhỏ.

- Kết quả: Có thể làm biến mất hoàn toàn một allele có lợi nào đó khỏi quần thể hoặc làm cho một allele có hại trở nên phổ biến; làm giảm sự đa dạng di truyền của quần thể.

 Ví dụ thực tế: Một trận động đất bất ngờ xảy ra trên một hòn đảo nhỏ biệt lập, vô tình chôn vùi hầu hết các cá thể chuột lông đen (vốn có sức sống tốt hơn), chỉ còn lại vài cá thể chuột lông xám sống sót ngẫu nhiên. Quần thể chuột mới phục hồi từ nhóm sống sót này sẽ có tần số allele quy định lông xám chiếm ưu thế tuyệt đối.

3. Dòng gene

- Là sự di chuyển của các allele vào hoặc ra khỏi quần thể thông qua sự di cư của các cá thể hữu thụ hoặc sự phát tán của các giao tử (hạt phấn, bào tử).

- Làm thay đổi tần số allele và kiểu gen của quần thể không theo một hướng xác định.

- Có thể làm tăng sự đa dạng di truyền của quần thể nhận (nếu mang đến allele mới) hoặc làm giảm sự đa dạng di truyền (nếu di cư mang đi nhiều allele).

Ví dụ thực tế: Gió bão lớn mang theo các hạt phấn của loài hoa hồng dại từ thung lũng phía Tây vượt qua dãy núi cao sang thụ phấn cho quần thể hoa hồng dại ở thung lũng phía Đông, mang đến những allele quy định màu sắc hoa mới lạ chưa từng có ở quần thể phía Đông.

4. Chọn lọc tự nhiên

- Chọn lọc tự nhiên (CLTN) thực chất là quá trình phân hoá khả năng sống sót và khả năng sinh sản của các cá thể có các kiểu gen khác nhau trong quần thể.

- CLTN tác động trực tiếp lên kiểu hình qua đó gián tiếp làm thay đổi tần số kiểu gen và tần số allele của quần thể.

- Là nhân tố tiến hoá duy nhất có hướng, quy định chiều hướng biến đổi tần số allele và hình thành đặc điểm thích nghi.

- Tốc độ chọn lọc chống lại allele trội diễn ra rất nhanh vì allele trội biểu hiện ngay ra kiểu hình ở cả trạng thái đồng hợp và dị hợp; chọn lọc chống lại allele lặn diễn ra chậm hơn do allele lặn bị "ẩn" trong kiểu gen dị hợp.

Ví dụ thực tế: Ở vùng tuyết trắng Bắc Cực, gấu có bộ lông màu trắng dễ dàng ngụy trang để rình mồi và tránh kẻ thù hơn gấu lông đen. Những con gấu lông đen dễ bị phát hiện và chết đói hoặc bị săn bắn. Qua nhiều thế hệ, CLTN đã giữ lại allele quy định lông trắng và đào thải hầu hết allele quy định lông đen ở quần thể này.

5. Giao phối không ngẫu nhiên

- Gồm: Giao phối cận huyết, tự thụ phấn và giao phối có lựa chọn.

- Không làm thay đổi tần số allele nhưng làm thay đổi tần số kiểu gen của quần thể theo hướng: Tăng dần tần số kiểu gen đồng hợp, giảm dần tần số kiểu gen dị hợp.

- Làm giảm sự đa dạng di truyền của quần thể, dễ làm xuất hiện các kiểu hình có hại do các gen lặn có hại được đưa về trạng thái đồng hợp lặn.

Ví dụ thực tế: Ở các loài thực vật tự thụ phấn nghiêm ngặt như đậu Hà Lan, nếu thế hệ xuất phát có 100% dị hợp Aa, sau 3 thế hệ tự thụ phấn liên tiếp, tỉ lệ dị hợp tử Aa chỉ còn lại (1/2)³ = 12,5%, trong khi tỉ lệ đồng hợp tử AA và aa tăng mạnh lên đến 87,5%.

III. HÌNH THÀNH ĐẶC ĐIỂM THÍCH NGHI

1. Khái niệm

- Đặc điểm thích nghi là đặc điểm di truyền giúp sinh vật tăng khả năng sống sót và khả năng sinh sản trong môi trường sống nhất định.

- Mức độ thích nghi được đo bằng giá trị thích nghi (sự đóng góp số lượng con cái hữu thụ cho thế hệ sau).

Ví dụ thực tế: Xương rồng sống ở hoang mạc khô hạn có lá biến thành gai để giảm tối đa sự thoát hơi nước, đồng thời thân biến dạng thành thân mọng nước để dự trữ nước cho cây.

2. Cơ chế

- Đột biến cung cấp các biến dị di truyền (nguyên liệu).

- Giao phối tạo ra các biến dị tổ hợp phong phú.

- CLTN đóng vai trò sàng lọc, giữ lại những cá thể mang các biến dị thích nghi, giúp tăng dần số lượng cá thể mang đột biến có lợi qua các thế hệ.

Ví dụ thực tế: Khi sâu ăn lá xuất hiện đột biến có màu xanh lá cây ngẫu nhiên, chúng khó bị chim phát hiện hơn sâu màu nâu. CLTN liên tục ăn thịt sâu màu nâu và giữ lại sâu màu xanh, giúp gen quy định màu xanh ngụy trang nhanh chóng phổ biến trong quần thể sâu.

3. Tính tương đối của đặc điểm thích nghi

- Mọi đặc điểm thích nghi chỉ mang tính hợp lí tương đối vì:

+ Môi trường sống luôn thay đổi, đặc điểm vốn thích nghi ở môi trường này có thể trở nên bất lợi khi môi trường thay đổi.

+ CLTN chỉ lựa chọn những biến dị tốt nhất trong số các biến dị sẵn có trong quần thể chứ không thể tạo ra những thiết kế hoàn hảo tuyệt đối.

Ví dụ thực tế: Chim cánh cụt có đôi cánh biến đổi thành vây bơi cực kì điêu luyện dưới nước để săn cá, nhưng đặc điểm này lại khiến chúng hoàn toàn mất đi khả năng bay lượn trên không trung để trốn tránh kẻ thù trên mặt đất.

IV. LOÀI VÀ CƠ CHẾ HÌNH THÀNH LOÀI

1. Khái niệm loài sinh học và các cơ chế cách li sinh sản

- Loài sinh học là một hoặc một nhóm quần thể gồm các cá thể có khả năng giao phối với nhau trong tự nhiên và sinh ra đời con có sức sống, có khả năng sinh sản (hữu thụ), cách li sinh sản với các nhóm quần thể khác tương tự.

- Các cơ chế cách li sinh sản:

+ Cách li trước hợp tử: Ngăn cản các cá thể giao phối với nhau tạo hợp tử (cách li nơi ở, cách li tập tính, cách li thời gian/mùa vụ, cách li cơ học).

+ Cách li sau hợp tử: Ngăn cản việc thụ tinh phát triển thành con lai hữu thụ (hợp tử bị chết, con lai giảm sức sống hoặc con lai bị bất thụ).

Ví dụ thực tế: Con lừa giao phối với con ngựa sinh ra con la. Con la rất khỏe mạnh nhưng bị bất thụ (không thể sinh con) do bộ nhiễm sắc thể của lừa và ngựa không tương đồng, dẫn đến không thể giảm phân bình thường. Đây là ví dụ điển hình của cách li sau hợp tử.

2. Cơ chế hình thành loài

a) Hình thành loài khác khu vực địa lí

- Xảy ra khi có các trở ngại địa lí (sông, núi, biển, sa mạc...) ngăn cản dòng gene giữa các quần thể cùng loài.

- Dưới tác động của CLTN và các nhân tố tiến hoá khác, vốn gene của các quần thể bị cách li tích lũy các đột biến và biến đổi độc lập.

- Khi sự khác biệt di truyền đạt đến mức xuất hiện cách li sinh sản, loài mới chính thức hình thành.

Ví dụ thực tế: Loài chim sẻ ngô ở quần đảo Galapagos bị chia cắt bởi các hòn đảo đại dương cách xa nhau. Qua thời gian dài cách li địa lí, mỗi quần thể tích lũy các đột biến khác nhau để thích nghi với nguồn thức ăn trên mỗi đảo, hình thành nên các loài chim sẻ có kích thước mỏ khác biệt và không còn giao phối được với nhau.

 b) Hình thành loài cùng khu vực địa lí

- Hình thành loài bằng cách li sinh thái: Các quần thể sống chung trong một khu vực nhưng chọn các ổ sinh thái khác nhau, lâu dần dẫn đến cách li sinh sản và hình thành loài mới.

- Hình thành loài bằng cách li tập tính: Sự thay đổi tập tính giao phối khiến một nhóm cá thể không giao phối với nhóm còn lại, hình thành loài mới.

- Hình thành loài bằng lai xa và đa bội hoá: Phổ biến nhất ở thực vật. Sự kết hợp giữa bộ NST của hai loài khác nhau và hiện tượng đa bội hoá giúp con lai khắc phục được tình trạng bất thụ, tạo ra loài mới ngay lập tức mà không cần cách li địa lí.

Ví dụ thực tế: Loài lúa mì hiện đại (Triticum aestivum) là loài dị đa bội (2n = 42, kí hiệu bộ NST là 2nAA + 2nBB + 2nDD) được hình thành qua con đường lai xa kết hợp đa bội hoá phức tạp giữa ba loài cỏ hoang dại khác nhau.

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn
Đọc tiếp: